Luận giải ý nghĩa Tứ Đậu, Lục Phủ, Ngũ Quan khi xem tướng mặt

173
Luận giải ý nghĩa Tứ Đậu, Lục Phủ, Ngũ Quan khi xem tướng mặt

Bài này sẽ giúp chúng ta hiểu về các phương pháp xem tướng mặt thông qua Tứ Đậu, Lục Phủ, Ngũ Quan khi đánh giá gương mặt để xét đoán vận mạng một cách tổng quan, chính xác.

Chú ý mỗi phương pháp xem đều có đặc thù mặc dù về cái nhìn chung chúng đều hướng tới sự toàn mỹ của các bộ phận trên gương mặt nên bạn cần đọc kỹ để đánh giá chuẩn xác.

1. Nghiên cứu luận giải chung về Tứ đậu

Tứ đậu – 4 dòng chảy trên gương mặt trong thuật xem tướng mặt thiên hướng nhiều về sự rõ ràng, nông sâu để đánh giá vận mệnh tốt xấu, dự đoán cát hung.

Theo định nghĩa chung, gương mặt được ví như mặt đất, đất thì phải có sông có núi. Nên, trong phần luận giải chung về Ngũ nhạc, chúng ta chú trọng tới các gò nổi lên trên gương mặt như núi cao, thì Tứ đậu ở phần này thiên hướng về các đường hằn sâu xuống như các dòng chảy.

Tứ đậu trong thuật xem tướng mặt là gì? Cách xác định tứ đậu

Đậu theo tiếng Trung Quốc ý chỉ về mương nước, đại ý về dòng chảy. Tứ đậu có nghĩa là 4 dòng nước chảy: Giang, Hà, Hoài, Tế, đều có ý nghĩa chỉ về dòng sông. Trong thuật xem tướng mặt, bộ não được gọi là biển, nếu bạn đọc nhiều tài liệu Trung Quốc thì não còn được gọi là não hải, tiếp thu nước từ các dòng sông chảy về. Bởi vậy, chúng ta cũng thường nghe câu “Trăm sông đổ về một biển” hay “hải nạp bách xuyên”. Cho nên não sẽ là nơi đổ về của 4 bộ phận khác bao gồm:

  • Mũi là Tế đậu
  • Mắt là Hoài đậu
  • Miệng là Hà đậu
  • Tai là Giang đậu.
Tứ đậu trong thuật xem tướng mặt
Tứ đậu trong thuật xem tướng mặt

Luận giải ý nghĩa tứ đậu, thế nào là tứ đậu tốt xấu?

Đã là dòng chảy, về nguyên tắc chung là phải sâu, bề mặt phải rộng thì lưu lượng dòng chảy mới nhiều và mạnh. Bởi vậy nên tứ đậu tốt đẹp cần sâu, rõ, rộng thì con người sẽ thường hưởng mệnh phúc khí, hanh thông.

Tứ đậu được đánh giá là tứ đậu đắc cách (đạt được mọi thứ tốt nhất) khi cả 4 đậu bao gồm tai, mắt, mũi, miệng và nhân trung đều đẹp. Bạn sẽ tự hỏi, tại sao lại có nhân trung ở đây? Lý do theo nhân tướng học, nhân trung được coi là mạch chính của 4 đậu, 4 đậu chỉ đẹp khi có nhân trung đẹp (xem ngay bên dưới).

Tai – Giang đậu được đánh giá là đẹp cần có lỗ tai rộng, sâu, hình thể tai chắc chắn, đầy đặn, vị trí tai mọc cao, thế tai khép sát về phía đầu (não hải). Người như vậy chủ về thông minh, cuộc sống ổn định, vững chãi. Tai đánh giá là xấu khi mỏng manh, quá nhỏ, lỗ tai hẹp, không có thế.

Mắt – Hoài đậu được đánh giá là đẹp cần sâu, dài, ánh mắt trong sáng, lòng đen lòng trắng phân minh, lòng đen lớn hơn lòng trắng, đồng tử (con ngươi) linh động, sáng, thu gọn. Người đạt các yếu tố như vậy sẽ thường thông minh, quý hiển. Mắt được coi là xấu khi mắt to lồi ra ngoài, đen trắng không rõ, đồng tử lờ đờ.

Mũi – Tế đậu được đánh giá là đẹp khi thông suốt, mạnh mẽ tức là sống mũi phải thẳng thớm, không cong queo, không gãy, đầu mũi phải đầy (chứa nước – đại ý tiền tài, danh vọng, sự nghiệp…), hai cánh mũi nở, nhìn rõ cân xứng, cuộc đời sẽ sung túc không lo đói rách. Ngược lại với các yếu tố này, mũi gãy, khoằm, đầu mũi, cánh mũi không rõ là mũi xấu.

Miệng – Hà đậu được đánh giá là đẹp khi vuông vức, lớn rộng; viền môi khóe miệng (lăng giác) rõ ràng, hướng lên trên (về phía não). Hội tụ đủ các yếu tố này thì cuộc sống phúc thọ đủ đầy.  Miệng được đánh giá là xấu khi môi quá mỏng, khuôn miệng quá hẹp, khóe miệng trễ hẳn xuống bên dưới… Cuộc sống của người có miệng như vậy thường hư ảo, khó mà thuận lợi.

Nhân trung – Điểm nối dòng chảy, nằm ngay dưới mũi, nối dài tới bờ môi trên được đánh giá là đẹp phải cần có bờ (viền thịt) nổi rõ, thẳng dài, lòng nhân trung cần sâu nhìn thấy dễ dàng, trên vừa phải càng về dưới càng rộng.  Người có nhân trung đẹp kết hợp với 4 đậu đắc cách đã nói ở trên sẽ có cuộc sống viên mãn. Ngược lại, người không có nhân trung hoặc nhân trung quá mờ, không rõ ràng thì thường sẽ gặp trắc trở, không thuận lợi dù 4 đậu đắc cách.

2. Nghiên cứu luận giải chung về Lục phủ

Lục phủ là gì? Vị trí lục phủ trên gương mặt

Lục phủ trong nhân tướng học là cách thức nhận diện 3 cặp xương ở bìa ngoài ôm lấy hai bên mặt, không phải là lục phủ trong thân thể con người (lục phủ ngũ tạng) mà bạn thường nghe.

Phủ trong nhân tướng học ý chỉ về kho chứa của cải, lục phủ là 6 khó chứa tiền tài, vật chất trên gương mặt.

Lục phủ trong thuật xem tướng mặt
Lục phủ trong thuật xem tướng mặt

Lục phủ được phân định chi tiết như sau:

Thiên thương thượng phủ là 2 xương ở 2 bên gò trán, tính từ vị trí chân tóc tới dưới đuôi chân mày, kéo dài tới phần trên của tai, thuộc thiên đình.

Quyền cốt trung phủ là 2 xương tạo thành 2 gò má kéo dài sang ta, thuộc khu Trung Đình.

Tai cốt hạ phủ là 2 xương tiếp giáp với 2 gò má, tạo hình phía dưới, thuộc khu Hạ đình.

Chú ý: Để biết về Thiên – Trung – Hạ đình được phân biệt, vui lòng xem bài luận giải tam đình trên gương mặt.

Ý nghĩa và cách xem lục phủ đẹp xấu trong nhân tướng học

Như đã nói ở trên, phủ là kho chứa tiền tài bởi vậy lục phủ đẹp là khi xương mặt và thịt cân xứng, đầy đặn mang ý nghĩa kho tiền sung mãn, cuộc sống sung túc. Khi quan sát lục phủ, cần cân nhắc xương làm trụ cột, xương phải nở đúng cách, tạo hình mạnh mẽ, cân xứng.

Thiên thương thượng phủ – Gò 2 bên trán đầy, da tươi tắn thì thường được ông bà, cha mẹ, anh chị em hỗ trợ, thụ hưởng nhiều tiền của.

Quyền cốt trung phủ – gò 2 má nảy nở đẹp đẽ thì thường ở tuổi công việc sự nghiệp tự mình đạt được nhiều của cải, thành công.

Tai cốt hạ phủ – xương bên dưới tai sung mãn, tươi tắn báo hiệu tuổi già viên mãn, gia nghiệp phát triển tốt.

Lục phủ được đánh giá hoàn mỹ khi mà xương bên phải và bên trái tạo thế nhất quán, xương thịt đều cân xứng vừa phải, chắc chắn, thịt không được vượt trội so với xương, xương cũng không phát triển quá so với thịt, da dẻ tươi nhuận, tạo cảm giác tươi mát mùa hè, ấm áp về mùa đông.

Xem lục phủ trên mặt cũng biết được thời gian thụ hưởng của cải. 2 gò trán ứng với tuổi trẻ, 2 gò má ứng với trung vận – trung niên, 2 xương nối tạo hàm bên dưới ứng với tuổi già – vãn niên.

3. Nghiên cứu luận giải chung về Ngũ quan

Ngũ quan là gì? Cách xác định ngũ quan trên khuôn mặt

Chúng ta thường nghe câu: ngũ quan thanh tú, hay ngũ quan ngay ngắn, hay ngũ quan chính trực. Trong nhân tướng học, Ngũ quan là xét đoán 5 bộ phận trọng yếu trên gương mặt để đánh giá về tướng chất quý, phú hay bần tiện. Cổ tướng kinh Trung Quốc có câu: “Trời lấy ngũ tinh để biểu lộ hình thể; Đất lấy ngũ nhạc để định khu vực; Người thì lấy ngũ quan định quý, tiện, bần, phú”. Nói cách khác ngũ quan rất quan trọng, được đưa vào xét đoán là 1 trong tam tài.

5 bộ phận này bao gồm:

  • Bảo thọ quan là 2 hàng lông mày
  • Giám sát quan là cặp mắt
  • Thám thính quan là 2 tai
  • Thảm biện quan là mũi
  • Xuất nạp quan là miệng
Ngũ quan trong thuật xem tướng mặt
Ngũ quan trong thuật xem tướng mặt

Luận giải ý nghĩa của ngũ quan, cách phân định tốt xấu

Đọc phần bên trên chúng ta đều hiểu rằng ngũ quan có thể thể hiện một con người ra sao. Trong nhân tướng học thì ngũ quan đẹp cần đạt tiêu chuẩn minh lượng ý chỉ các bộ phận sáng sủa, nhìn có khí chất, trang nhã, sáng đẹp; cần đạt tiêu chuẩn đoan chính ý chỉ nhìn ngay thẳng không lệch lạc, cân xứng, lớn nhỏ tương hợp, hình thể phải rõ ràng.

Lông mày – bảo thọ quan

Lông mày được đánh giá là đẹp cần dài đến khóe đuôi mắt, sợi lông to vừa phải thô quá thì cương liệt, dễ gãy, nhỏ quá thì ủy mị không đủ quyết tâm, màu sắc phải tươi, nhìn có khí thế.

Lông mày bị coi là xấu khi thưa (ít anh chị em, dễ sống cô độc, hay bất hòa); lông mày ngắn, xoắn, vặn vẹo chủ về tư duy không minh mẫn hay sống theo cảm tính, bản năng; lông mày mọc bất tuân thứ tự, mọc ngược cuộc sống bất thường, có khả năng có anh em dị bào.

Mắt – Giám sát quan

Mắt được đánh giá là là đẹp cần sâu, dài, thần quang (ánh sáng từ con ngươi – đồng tử là chính), các đường nét nảy nở, mạch lạc, đen trắng phân minh, đuôi mắt ngang hoặc cong lên.

Mắt bị coi là xấu khi mắt hình tam giác là tướng đại ác, tròng mắt lồi ra ngoài, thế mắt trợn trừng, lộ quang (ánh sáng tản ra ngoài, người ngoài nhìn vào cảm giác như người ta đang muốn nhìn thấu tâm can mình), mắt quá ngắn thì dễ cầu toàn, bỏ lỡ cơ hội, mắt không có ánh sáng, tăm tối.

Miệng – Xuất nạp quan

Miệng được đánh giá là đẹp nếu là nam cần rộng – nữ cần thanh vừa, môi tươi nhuận, hồng hào, viền môi khóe môi rõ ràng, khóe miệng hướng lên trên, răng trắng đều, lưỡi không vừa phải hoặc lưỡi dài (người lưỡi dài có thể chạm đầu mũi được đánh giá là người sang, ăn nói linh hoạt, cả đời no đủ).

Miệng bị đánh giá là xấu khi ngược với tướng đẹp hoặc môi thôi lổi (chúm, nhỏ môi mỏng) dễ gặp cảnh bần hàn, cô độc, gặp họa; lộ răng khi miệng ngậm (với đàn bà là tướng khắc chồng) – trọng tự do tự tại không quan tâm ước thúc; Miệng có thế thuyền úp, khóe miệng kéo sâu xuống bên dưới – tham lam chỉ biết mình, tiêu cực; miệng xùi bọt mép, chảy dãi khi nói – người hay làm bừa, nói bừa, bất chấp miễn đạt được mục đích.

Mũi – Thẩm biện quan

Mũi được đánh giá là tốt khi mũi cao, sáng, được hai gò má hỗ trợ, thế mũi dài, không lộ xương sống mũi, khí sắc thanh nhã dễ nhìn, da dẻ bằng phẳng không lồi lõm, đầu mũi tròn đầy, 2 cánh mũi (lan đài), nở cân đối, rõ. Nam sống mũi nên cao tiêu biểu cho đàn ông thành đạt, nữ sống mũi cần thẳng thay vì cao vì nếu không sẽ là người thiên về tính bảo thủ, mọi chuyện chỉ nghĩ cho mình, nặng về địa vị.

Mũi bị coi là xấu khi mũi bị lệch, vặn vẹo – người trí trá, gian xảo, nói dối; sống mũi hẹp mỏng – dễ cô độc, phụ nữ dễ bỏ chồng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc; lỗ mũi lộ, to nhìn thấy rõ thường khó khăn về tiền bạc, có kiếm được tiền thì lại tiêu hết nhưng nhiều sách cho rằng những người này có căn cơ; sống mũi có nốt ruồi, lại vặn vẹo, có vết nám – dễ phạm pháp, tai ương bất ngờ; sống mũi nhấp nhô không bằng là người hay mệt mỏi về tinh thần, có tài mà không thành đạt.

Tai – Thám thính quan

Tai được coi là đẹp cần trắng hơn da mặt, tai cao hơn mắt, càng cao càng tốt, ép sát vào xương đầu, đứng trước mặt không thấy tai hoặc chỉ lấp ló, luân quách phân minh (các đường trong tai tách bạch), to lớn, dày dặn; lỗ tai rộng.

Tai bị coi là xấu khi tai quá mỏng – dễ gặp họa; tai không rõ luân quách; lỗ tai hẹp.

Tựu chung lại:

Tứ đậu, lục phủ, ngũ quan là 3 trong số các phương pháp xét đoán tướng mặt một người là tốt hay xấu. Mặc dù mỗi phương pháp có khác nhau như tứ đậu thiên về nông sâu, lục phủ thiên về cân xứng, ngũ quan thiên về đoan chính ngay thẳng nhưng khi xem tướng mặt cần phải tổng hợp chúng lại để đánh giá mà không nên tách rời để có được kết quả tốt nhất khi phỏng đoán vận mệnh một người.

Ngoài Tứ Đậu, Lục Phủ, Ngũ Quan, khi luận giải tướng mặt một con người, người ta còn phải dựa trên các cách chia khác như:

(Click vào link nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu thêm)